GiaiQuyet.comGiải Quyết
Chốt kết quả dàn xếp, khi bên kia lật lọng

Biên bản hoà giải thành ở cơ sở có buộc bên kia thi hành không: giá trị và bước tiếp

Tổ hoà giải ở thôn đã hoà giải thành, nhưng bên kia không làm như đã hứa. Bài giải thích văn bản hoà giải thành có sức buộc tới đâu và đi tiếp cửa nào.

Wide shot of a small community house in Đồng Tháp where an elderly mediator pours tea for two villagers seen from behind, ceiling fan, open wooden shutters, rice fields beyond

Văn bản hoà giải thành do tổ hoà giải ở cơ sở lập không có sức cưỡng chế như bản án. Theo Luật Hoà giải ở cơ sở 2013, việc thực hiện thoả thuận dựa trên sự tự nguyện của các bên; hoà giải viên theo dõi, đôn đốc, nhưng không ai được dùng tờ biên bản ấy để buộc bên kia trả tiền hay dừng hành vi bằng biện pháp nhà nước.

Điều đó không có nghĩa tờ biên bản vô dụng. Nó là chứng cứ mạnh rằng hai bên đã ngồi lại, đã thống nhất một nội dung cụ thể trước người hoà giải. Nếu muốn nó có sức thi hành, bạn có thể yêu cầu toà án công nhận trong một thời hạn ngắn. Bài này giải thích giá trị thật của văn bản hoà giải thành, nên kiểm tra gì trước khi ký, và các bước khi bên kia không làm đúng.

Văn bản hoà giải thành là gì và ai lập

Hoà giải ở cơ sở là hoạt động của tổ hoà giải ở thôn, tổ dân phố, gồm những hoà giải viên do cộng đồng bầu, giúp các bên tự thoả thuận giải quyết mâu thuẫn nhỏ: va chạm hàng xóm, nợ nần giữa người quen, chuyện trong gia đình. Hoà giải viên không phán xử ai đúng ai sai; họ dẫn dắt để hai bên tự tìm ra điểm chung.

Khi hai bên đạt được thoả thuận, các bên có thể đề nghị lập văn bản hoà giải thành. Luật không buộc lúc nào cũng phải có văn bản, nên nếu bạn muốn có giấy tờ, hãy chủ động đề nghị ngay trong buổi hoà giải. Văn bản thường ghi thông tin các bên, nội dung chính của vụ việc, thoả thuận đạt được, cách thức và thời hạn thực hiện, kèm chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và hoà giải viên.

Văn bản này khác với giấy tự viết ở nhà trưởng thôn. Nó gắn với một hoạt động hoà giải theo luật, có hoà giải viên chịu trách nhiệm theo dõi, và quan trọng nhất là thuộc loại kết quả hoà giải có thể được toà án xem xét công nhận theo thủ tục riêng. Phần trình tự một buổi hoà giải ở cơ sở, cách chọn hoà giải viên, bạn có thể đọc kỹ hơn ở PhanXu.com; ở đây chỉ bàn chuyện sau khi đã có văn bản.

Ba loại biên bản hoà giải hay bị nhầm

Người dân hay gọi chung là "biên bản hoà giải", nhưng ba loại dưới đây có giá trị rất khác nhau:

LoạiAi chủ trìGiá trị khi bên kia không làmBước tiếp
Văn bản hoà giải thành ở cơ sởTổ hoà giải ở thôn, tổ dân phốKhông có sức cưỡng chế; là chứng cứ; hoà giải viên đôn đốcXin toà công nhận trong thời hạn luật định, hoặc khởi kiện
Biên bản hoà giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xãUBND cấp xãKhông tự thi hành; với một số tranh chấp đất là bước phải qua trước khi khởi kiệnTheo hướng dẫn của xã: cơ quan có thẩm quyền hoặc toà án
Hoà giải thành tại toà ánHoà giải viên tại toà, thẩm phánToà ra quyết định công nhận, có hiệu lực thi hànhYêu cầu thi hành án dân sự

Tranh chấp đất có yếu tố hành chính, như cấp sổ, thu hồi, thuộc mảng khác và không bàn ở đây. Nếu bạn đang cầm một biên bản của UBND cấp xã về đất, nên đọc kỹ trong biên bản ghi các bên được hướng dẫn đi tiếp tới đâu.

Kiểm tra gì trước khi ký văn bản hoà giải thành

Văn bản hoà giải thành chỉ dùng được về sau nếu nội dung đủ rõ để một người không có mặt cũng hiểu. Trước khi ký, đọc lại và kiểm tra:

  • Ai làm gì, cho ai. Ví dụ giả định: "ông A trả bà B 20 triệu đồng", không phải "hai bên thống nhất giải quyết dứt điểm khoản tiền".
  • Khi nào, bằng cách nào. Ngày cụ thể, trả một lần hay nhiều lần, chuyển khoản vào tài khoản nào hay đưa tiền mặt có ký nhận.
  • Việc phải dừng ghi bằng hành vi cụ thể. "Không xả nước thải ra rãnh chung trước nhà bà B" rõ hơn "giữ vệ sinh".
  • Điều gì xảy ra nếu chậm. Có thể ghi hai bên sẽ quay lại tổ hoà giải, hoặc bên có quyền được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
  • Họ tên, chữ ký đủ. Các bên, hoà giải viên; nếu ai không ký được thì điểm chỉ và có người đọc lại nội dung cho họ nghe.
  • Mỗi bên nhận một bản. Đừng để tổ hoà giải giữ bản duy nhất; xin bản cho mình ngay tại buổi hoà giải hoặc chụp lại.

Bên kia không làm đúng: vai trò của hoà giải viên

Luật Hoà giải ở cơ sở giao cho hoà giải viên trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thoả thuận hoà giải thành. Trên thực tế, đây là bước đầu tiên bạn nên dùng khi bên kia trễ hẹn: báo cho hoà giải viên đã chủ trì, nói rõ việc gì chưa làm, kèm bằng chứng như sao kê không có tiền về hay ảnh hành vi tái diễn.

Hoà giải viên có thể gặp riêng bên kia, nhắc lại thoả thuận, tìm hiểu lý do. Nhiều trường hợp bên kia trễ vì gặp khó khăn thật, chẳng hạn mất việc, ốm đau, và một buổi hoà giải lại để giãn lịch trả là đủ để mọi chuyện đi tiếp. Ghi lại kết quả buổi hoà giải lần hai bằng văn bản mới, giữ cả văn bản cũ.

Nhưng hoà giải viên không có quyền xử phạt, không thu tiền hộ, không buộc ai làm gì. Nếu bên kia vẫn không thực hiện, hoặc tuyên bố không còn đồng ý với thoả thuận, thì kênh tự nguyện đã đi hết. Lúc này tờ biên bản trở thành chứng cứ để bạn đi tiếp sang cơ quan có thẩm quyền, thường là toà án với tranh chấp dân sự giữa cá nhân.

Hai đường đi tiếp khi kênh tự nguyện đã hết

Xin toà công nhận kết quả hoà giải thành. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có thủ tục cho phép một hoặc các bên yêu cầu toà án công nhận kết quả hoà giải thành ngoài toà án. Yêu cầu phải nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày đạt được thoả thuận hoà giải thành; quá hạn thì không đi đường này được nữa. Nếu toà công nhận, quyết định ấy được thi hành theo pháp luật thi hành án dân sự. Đường này hợp khi thoả thuận rõ ràng và bên kia chưa phủ nhận nội dung.

Khởi kiện vụ án dân sự. Nếu bên kia phủ nhận thoả thuận, hoặc đã quá thời hạn xin công nhận, bạn có thể khởi kiện theo thủ tục thông thường, dùng văn bản hoà giải thành làm chứng cứ. Đường này dài hơn nhưng giải quyết được cả khi hai bên đã bất đồng. Phần đơn khởi kiện, toà nào thụ lý, án phí, có thể đọc thêm ở DuongSu.com.

Với hành vi vi phạm trật tự, có thêm cửa hành chính. Nếu thoả thuận là dừng gây ồn ban đêm, xả rác, để vật nuôi gây mất vệ sinh, thì ngoài con đường dân sự, việc vi phạm quy định chung vẫn có thể được phản ánh với UBND cấp xã hoặc công an cấp xã. Văn bản hoà giải thành cho thấy bạn đã đi đường mềm trước.

Ví dụ giả định: một khoản nợ đi qua hoà giải ở cơ sở

Chị Hạnh ở một xã thuộc tỉnh Thanh Hoá cho người cùng xóm vay 40 triệu đồng để sửa mái nhà, hẹn sáu tháng trả. Quá hạn ba tháng, người vay khất mãi, hai nhà bắt đầu không chào nhau. Chị nhờ tổ hoà giải của thôn. Buổi hoà giải diễn ra ở nhà văn hoá, có hai hoà giải viên. Người vay thừa nhận khoản nợ, xin trả 5 triệu đồng mỗi tháng trong tám tháng. Văn bản hoà giải thành ghi rõ ngày trả từng kỳ, số tài khoản của chị Hạnh, và câu "nếu chậm quá 15 ngày ở bất kỳ kỳ nào, chị Hạnh có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết toàn bộ số còn lại".

Ba kỳ đầu người vay trả đúng. Kỳ thứ tư không thấy tiền. Chị Hạnh không sang nhà làm ầm, mà nhắn cho hoà giải viên kèm ảnh chụp sao kê. Hoà giải viên gặp người vay, biết anh vừa mất việc ở xưởng, và mời hai bên ngồi lại. Lần này họ thống nhất giãn lịch: 3 triệu đồng mỗi tháng, thêm hai kỳ. Văn bản mới được lập, văn bản cũ vẫn giữ.

Điều đáng chú ý trong ví dụ: chị Hạnh đã cân nhắc xin toà công nhận ngay sau buổi hoà giải đầu, khi người vay còn hợp tác, vì khoản tiền khá lớn so với thu nhập của chị. Nếu chị làm vậy, đến kỳ thứ tư chị đã có thêm một lựa chọn mạnh. Chị không làm, và may là hoà giải lần hai thành công. Không phải vụ nào cũng may như vậy, nên quyết định này nên được tính từ sớm chứ không phải lúc đã trễ hẹn.

Những trường hợp văn bản hoà giải thành yếu hoặc không dùng được

Có những tình huống mà dù đã ký, văn bản hoà giải thành vẫn khó dùng. Thứ nhất là khi nội dung thuộc loại việc luật không cho hoà giải ở cơ sở, chẳng hạn giao dịch trái pháp luật, hoặc việc có dấu hiệu tội phạm nghiêm trọng; hoà giải ở cơ sở không thay được trách nhiệm hình sự. Thứ hai là khi thoả thuận đụng tới quyền của người thứ ba không có mặt, ví dụ hai anh em thoả thuận về căn nhà mà người vợ cũng có phần. Thứ ba là khi nội dung quá mơ hồ, không xác định được ai phải làm gì.

Thêm một tình huống hay gặp: người ký không có quyền quyết định. Con trai ký thay cha già về khoản nợ của cha mà không có giấy uỷ quyền, người thuê nhà ký thoả thuận về việc sửa chữa thuộc quyền của chủ nhà. Khi đó văn bản có thể chỉ ràng buộc chính người đã ký, còn người có quyền thật thì không.

Nếu vụ việc của bạn có một trong các yếu tố này, nhất là có nhà đất hoặc số tiền lớn, nên hỏi luật sư trước khi chọn giữa xin công nhận và khởi kiện, vì chọn sai đường có thể mất thời hạn quý giá.

Câu hỏi thường gặp

Tổ hoà giải có được thu tiền hộ hoặc giữ tiền cho hai bên không?

Không nên và cũng không phải nhiệm vụ của tổ hoà giải. Tiền nên được chuyển thẳng giữa hai bên, tốt nhất là chuyển khoản có nội dung rõ ràng, hoặc đưa tiền mặt có giấy ký nhận. Nhờ hoà giải viên giữ tiền dễ tạo ra tranh chấp mới.

Văn bản hoà giải thành có cần UBND xã đóng dấu không?

Văn bản hoà giải thành ở cơ sở do các bên và hoà giải viên ký, không cần UBND cấp xã đóng dấu để có giá trị như một văn bản hoà giải. Nếu muốn có sức thi hành, con đường là yêu cầu toà án công nhận chứ không phải xin thêm con dấu.

Bên kia nói văn bản hoà giải thành là bị ép ký thì sao?

Khi đó lời của hoà giải viên và những người có mặt có ý nghĩa lớn. Nếu buổi hoà giải diễn ra bình thường, có người chứng kiến, có thời gian đọc lại, thì lời chối này khó đứng vững. Việc đánh giá cuối cùng thuộc về toà án nếu vụ việc đi tới đó.

Đã hoà giải thành ở cơ sở rồi, có được khởi kiện nữa không?

Có. Hoà giải ở cơ sở không tước quyền khởi kiện. Nếu bên kia không thực hiện hoặc phủ nhận thoả thuận, bạn vẫn có thể khởi kiện và dùng văn bản hoà giải thành làm chứng cứ. Nên lưu ý thời hiệu khởi kiện, có thể đọc thêm ở ThoiHan.com.

Hoà giải không thành thì tổ hoà giải có lập biên bản không?

Hoà giải viên có thể ghi nhận việc hoà giải không thành và hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Bạn nên xin một bản ghi nhận hoặc ít nhất chụp lại sổ theo dõi, vì nó cho thấy bạn đã đi đường hoà giải trước khi gõ cửa khác.

Thời hạn sáu tháng để xin toà công nhận tính từ ngày nào?

Tính từ ngày các bên đạt được thoả thuận hoà giải thành, thường là ngày ký văn bản. Đừng chờ tới khi bên kia trễ mấy kỳ mới tính chuyện; nếu thoả thuận có lịch trả dài, nên cân nhắc xin công nhận sớm khi bên kia còn hợp tác.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.